Đó là một số vấn đề sẽ được các chuyên gia giáo dục bàn luận tại Tư vấn trực tuyến chủ đề "Học IELTS có phải chỉ để tuyển sinh đại học?"do Báo Thanh Niên tổ chức vào 14 giờ 30 ngày 29.9 tại thanhnien.vn, qua fanpage Facebook và kênh YouTube, TikTok của Báo Thanh Niên.
https://www.youtube.com/watch?v=vwPbmCx_VT8
Dự thảo của Bộ GD-ĐT đề xuất bỏ chính sách cộng điểm với thí sinh có chứng chỉ IELTS trong xét tuyển đại học, có thể áp dụng từ năm 2027 hiện thu hút sự quan tâm lớn của đông đảo phụ huynh, sĩ tử trước kỳ thi tuyển sinh ĐH sắp tới.
Vừa qua, Bộ GD-ĐT cũng nêu dự kiến kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 chỉ có 2 môn là toán và ngữ văn. Nhiều phụ huynh lo ngại, những dự kiến thay đổi này từ phía Bộ GD-ĐT liệu có ảnh hưởng tới chất lượng thí sinh, cũng như giảm động lực học tiếng Anh của thí sinh hay không? Liệu có nên tập trung đầu tư học toán, văn hay các môn thuộc tổ hợp rồi để lên đại học tính tiếp môn tiếng Anh?
Chương trình tư vấn trực tuyến của Báo Thanh Niên với chủ đề"Học IELTS có phải chỉ để tuyển sinh đại học?" hy vọng sẽ mang tới cho quý vị và các bạn góc nhìn đa chiều và những thông tin hữu ích.
3 khách mời tham gia buổi tư vấn trực tuyến:

Các khách mời tham gia chương trình tư vấn chiều nay
ảnh: Lê Thanh Hải
- Nghiên cứu sinh Hà Đặng Như Quỳnh, Giám đốc học thuật tại DOL English;
- Thạc sĩ TESOL Trần Anh Khoa;
- Thạc sĩ Cù Xuân Tiến, Trưởng phòng Tuyển sinh và Công tác sinh viên, Trường ĐH Kinh tế - Luật, ĐH Quốc gia TP.HCM.

Nghiên cứu sinh Hà Đặng Như Quỳnh
ẢNH: VINH SAN
Các khách mời sẽ nêu quan điểm xung quanh dự thảo đang lấy ý kiến của Bộ GD-ĐT về việc tuyển sinh đại học trong đó dự kiến bỏ điểm cộng với chứng chỉ ngoại ngữ và các giải học sinh giỏi trong xét tuyển đại học. Đồng thời lý giải vì sao đây là thay đổi lớn nhất đối với lứa thí sinh sinh năm 2009.
Bên cạnh đó, là những thông tin tuyển sinh đáng chú ý của Trường ĐH Kinh tế Luật (ĐH Quốc gia TP.HCM). Các thầy cô cũng sẽ chia sẻ về việc khi sở hữu năng lực tiếng Anh tốt sẽ mở ra những cơ hội gì với thí sinh, cũng như những người tốt nghiệp, đi làm...
Các khách mời trong buổi tư vấn là những người có thành tích nổi bật, vững chuyên môn về lĩnh vực phụ trách.
Cô Hà Đặng Như Quỳnh, nghiên cứu sinh giáo dục học tại ĐH Reading (Vương quốc Anh), sở hữu 9.0 IELTS Overall, tốt nghiệp á khoa Sư phạm Anh, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM và tốt nghiệp thạc sĩ hạng ưu, chuyên ngành giảng dạy tiếng Anh (ĐH Nottingham, Vương quốc Anh).

Thạc sĩ TESOL Trần Anh Khoa
ẢNH: VINH SAN
Thạc sĩ Trần Anh Khoa, người chinh phục IELTS 9.0, tốt nghiệp á khoa ngôn ngữ Anh, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐH Quốc gia TP.HCM. Thầy cũng là cựu học sinh chuyên Anh Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, TP.HCM; đoạt giải ba học sinh giỏi quốc gia môn tiếng Anh.
Thạc sĩ Cù Xuân Tiến, đang là Trưởng phòng Tuyển sinh và Công tác sinh viên, Trường ĐH Kinh tế - Luật, ĐH Quốc gia TP.HCM.

Thạc sĩ Cù Xuân Tiến
ẢNH: NVCC
Các chuyên gia cùng bàn luận một vấn đề đang được quan tâm: Có phải hiện nay nhiều phụ huynh, học sinh đang quá chú trọng vào việc đạt điểm IELTS cao mà quên mất mục tiêu cuối cùng là học được cách thật sự sử dụng được tiếng Anh? Và có phương pháp nào vừa giúp học hiệu quả tiếng Anh lẫn các môn khoa học tự nhiên hay không?
Cách để đưa IELTS về đúng giá trị của nó
Nói về dự thảo mà Bộ GD-ĐT đang lấy ý kiến bỏ điểm cộng chứng chỉ ngoại ngữ và giải học sinh giỏi trong xét tuyển đại học, nghiên cứu sinh Hà Đặng Như Quỳnh, Giám đốc học thuật tại DOL English, cho hay: "Tôi hiểu vì sao thông tin này khiến nhiều phụ huynh và học sinh lo lắng, nhưng trước hết cần hiểu đúng nội dung dự thảo. Nói "bỏ IELTS" là chưa chính xác. Chứng chỉ ngoại ngữ vẫn được dùng để quy đổi thay điểm môn ngoại ngữ trong tổ hợp xét tuyển, để chứng minh yêu cầu đầu vào của các chương trình đào tạo bằng tiếng nước ngoài, và để công nhận học phần, chuẩn đầu ra. Học sinh giỏi quốc gia, quốc tế vẫn được xét tuyển thẳng. Điều thay đổi là các trường không cộng thêm điểm ngoài thang đánh giá chính, để mỗi năng lực được ghi nhận một lần và theo cùng quy tắc cho mọi thí sinh.
Với lứa sinh năm 2009, đây là thay đổi lớn nhất vì các em là lứa đầu tiên gặp cách tính mới. Nhiều em đã đầu tư thời gian, công sức và chi phí cho IELTS từ sớm, trong khi thời gian còn lại để điều chỉnh không nhiều, nên áp lực tâm lý rất lớn nếu không hiểu rõ bản chất của sự thay đổi này".
"Song, tôi thấy đây là cách để đưa IELTS về đúng giá trị của nó. Tôi mong học sinh hãy bình tĩnh lại. IELTS vẫn có giá trị trong xét tuyển đại học", cô Như Quỳnh cho hay thêm.
Những ngày qua, xung quanh dự thảo của Bộ GD-ĐT, có ý kiến cho rằng Bộ muốn bỏ điểm cộng sẽ đưa điểm chuẩn các trường về cùng một mặt bằng để thí sinh dễ so sánh. Nhận định đó có chính xác không?
Thạc sĩ Cù Xuân Tiến, Trưởng phòng Tuyển sinh và Công tác sinh viên, Trường ĐH Kinh tế - Luật, ĐH Quốc gia TP.HCM, khẳng định cách hiểu đó chưa chính xác và cần nói rõ để phụ huynh khỏi nhầm. Bộ không đặt mục tiêu đưa điểm chuẩn các trường về cùng một mặt bằng. Mục tiêu của Bộ là minh bạch, đúng như Vụ Giáo dục đại học đã nêu: năng lực nào cần cho ngành học thì phải được đánh giá trực tiếp.
Còn chuyện so sánh điểm chuẩn giữa các trường thì bỏ điểm cộng không giải quyết được. Mỗi trường có tổ hợp xét tuyển khác nhau, cách quy đổi khác nhau, trọng số từng môn cũng khác nhau. Có trường nhân đôi môn chính, có trường không. Có trường xét trên thang 30, trường khác xét trên thang 100. Hai con số 25 điểm chuẩn ở hai trường không phải là cùng một hệ quy chiếu, kể cả khi không còn điểm cộng nào.
''Dự thảo bỏ các điểm cộng với chứng chỉ IELTS trong xét tuyển đại học là cần thiết, phù hợp'', thạc sĩ Cù Xuân Tiến nhấn mạnh.
Rất nhiều phụ huynh, học sinh quan tâm hiện nay: Thông tin bỏ điểm cộng IELTS khiến nhiều học sinh sinh năm 2009 đã hoặc đang chuẩn bị thi IELTS và phụ huynh lo ngại. Thực tế, chứng chỉ IELTS sẽ còn những "quyền lực gì" trong xét tuyển đại học từ năm 2027?
Thạc sĩ TESOL Trần Anh Khoa cho biết: Bộ GD-ĐT chỉ bỏ điểm cộng thưởng, IELTS vẫn được dùng để quy đổi điểm thi môn ngoại ngữ, khi có IELTS có thể được xét tuyển thẳng kết hợp hoặc xét tuyển vào các chương trình chất lượng cao; miễn những học phần ngoại ngữ trong chương trình đào tạo tại bậc đại học, tiết kiệm thời gian hơn, để thời gian tham gia nhiều hoạt động ngoại khóa.
Điểm cộng thực sự có tác động
Bằng chính thực tiễn công tác tuyển sinh tại Trường ĐH Kinh tế - Luật, ĐH Quốc gia TP.HCM đã phân tích dữ liệu xét tuyển của chính trường, thạc sĩ Cù Xuân Tiến thông tin: Chúng tôi lấy toàn bộ hồ sơ xét tuyển năm 2026 của trường, hơn 34.000 lượt đăng ký của hơn 17.000 thí sinh, rồi tính lại xem nếu không có điểm cộng thì kết quả sẽ khác thế nào.
Con số đầu tiên làm chính chúng tôi bất ngờ. Trong số hơn 3.100 em trúng tuyển, nhóm có chứng chỉ ngoại ngữ đạt điểm học lực trung bình 77,27 trên thang 100. Nhóm không có chứng chỉ đạt 77,74. Tức là nhóm có chứng chỉ còn thấp hơn một chút. Nhưng khi nhìn vào điểm xét tuyển cuối cùng thì nhóm có chứng chỉ là 85,76, nhóm không có chứng chỉ là 81,22.
Hai nhóm học ngang nhau, nhưng vào trường bằng hai mức điểm cách nhau hơn 4,5 điểm. Điều này cho thấy điểm cộng thực sự có tác động.
Con số thứ hai: nếu bỏ điểm cộng mà giữ nguyên điểm chuẩn đã công bố, cứ 4 em trúng tuyển thì có 1 em không còn đủ điểm. Chính xác là 24,2%.
Kết quả này đúng với nguyên tắc mà Bộ đang hướng tới: năng lực nào cần cho ngành học thì đánh giá trực tiếp và minh bạch, thay vì cộng gián tiếp qua một tiêu chí khác.

Nghiên cứu sinh Hà Đặng Như Quỳnh, Giám đốc học thuật tại DOL English, trong buổi tư vấn chiều nay
ảnh: Lê Thanh Hải
Bỏ điểm cộng tuyển sinh đại học với chứng chỉ IELTS có làm giảm động lực học tiếng Anh?
Nhiều bạn đọc cho rằng việc bỏ điểm cộng khi tuyển sinh đại học với chứng chỉ IELTS sẽ làm giảm động lực học tiếng Anh của học sinh phổ thông, học sinh băn khoăn không biết có nên học IELTS nữa không. Các chuyên gia nhìn nhận vấn đề này như thế nào?
Cô Hà Đặng Như Quỳnh nêu quan điểm: ''Nếu ai nghĩ học IELTS chỉ lấy một tấm "chứng chỉ" thì sẽ thấy bị ảnh hưởng trước dự thảo này. Nhưng tôi nghĩ cần nhìn lại một điều: học IELTS không chỉ là để lấy một tấm bằng. Bản chất IELTS là một kỳ thi đo năng lực tiếng Anh học thuật, tức là khả năng dùng tiếng Anh để học tập và nghiên cứu ở bậc học cao hơn.
Khi học IELTS đúng cách, các em rèn những năng lực rất thực tế: đọc hiểu văn bản học thuật dài và nhiều thông tin, nghe bài giảng, trình bày ý kiến có lập luận, viết một bài luận mạch lạc. Đó chính là những kỹ năng các em sẽ dùng hằng ngày khi học đại học, đặc biệt là đọc tài liệu và giáo trình bằng tiếng Anh, làm bài thuyết trình hay viết báo cáo.Tức là khi mình học IELTS, mình đã học được nhiều phương pháp để học tập ở bậc đại học.
IELTS mang kiến thức cho người học và cả phương pháp để học ở những bậc cao hơn. Trải nghiệm của chúng ta ở những bậc học cao hơn sẽ tốt hơn''.
Cô Như Quỳnh nhấn mạnh: ''Vì vậy, nếu bỏ điểm cộng, thứ mất đi chỉ là phần thưởng bên ngoài, còn giá trị học thuật của quá trình học thì vẫn còn nguyên. Nếu động lực học tiếng Anh của một em chỉ đến từ điểm cộng thì đó là động lực rất mong manh. Động lực bền vững đến từ việc em thấy mình tiến bộ và thấy tiếng Anh thật sự có ích cho việc học của mình''.
Cùng quan điểm, thạc sĩ Trần Anh Khoa chia sẻ với bạn đọc bằng kinh nghiệm cá nhân. Anh cho biết: ''Khi tôi học tiếng Anh, động lực đến từ chính bên trong. Học tiếng Anh, sử dụng tiếng Anh, nếu tiếp cận học IELTS đúng đắn hơn, nếu học không phải vì chứng chỉ, vì tấm bằng, thì mình có nhiều lợi ích .Việc bỏ điểm cộng chỉ giúp triệt tiêu việc học vẹt, học mẹo để kiếm điểm thưởng. Động lực học sẽ chuyển từ để đối phó sang để làm chủ ngôn ngữ".
Thạc sĩ Khoa nhấn mạnh: ''Có chứng chỉ IELTS sớm thì vẫn rất nhiều cái lợi như: miễn học phần tiếng Anh đầu vào và đáp ứng chuẩn đầu ra, học chương trình quốc tế dễ dàng, đọc tài liệu nước ngoài dễ, dễ tìm học bổng du học và có nhiều cơ hội đi hội thảo nước ngoài, tìm việc ở công ty đa quốc gia…''.
5 vai trò, 3 điều mở khi học tốt tiếng Anh
Nếu không cộng điểm chứng chỉ ngoại ngữ trong xét tuyển ĐH, chứng chỉ đó còn những giá trị gì với thí sinh?
Thạc sĩ Cù Xuân Tiến thông tin: Bỏ điểm cộng không phải là bỏ tiếng Anh. Chứng chỉ ngoại ngữ mất đi một vai trò, nhưng vẫn còn 5 vai trò khác, và những vai trò đó theo các em suốt 4 năm đại học.
Quan trọng nhất, và đây là điều Bộ đã nói rõ: chứng chỉ vẫn được dùng để quy đổi, thay thế cho điểm môn ngoại ngữ trong tổ hợp xét tuyển. Nghĩa là em vẫn dùng được chứng chỉ khi xét tuyển, chỉ khác là dùng để thay cho điểm môn, chứ không cộng thêm vào tổng điểm.
Bốn vai trò còn lại nằm ở quá trình học. Đó là điều kiện để vào các chương trình giảng dạy bằng tiếng Anh. Là căn cứ để nhà trường xếp lớp ngoại ngữ đúng trình độ ngay học kỳ đầu, em không phải ngồi học lại thứ mình đã biết. Là chuẩn đầu ra mà em phải đạt mới được tốt nghiệp. Và cuối cùng là các em sinh viên có thể tận dụng thời gian không học tiếng Anh chính khóa ở trường để để có thể học vượt, học song ngành giúp tiết kiệm thời gian và học phí.
Còn về lâu dài, tiếng Anh tốt mở ra 3 thứ mà điểm cộng không thể "mở" được: Đó là cơ hội giành học bổng trao đổi, cơ hội thực tập ở doanh nghiệp nước ngoài ngay từ năm 3, và mức lương khởi điểm khác hẳn khi ra trường.
''Nói ngắn gọn: điểm cộng chỉ dùng được đúng một lần, vào đúng ngày xét tuyển. Còn tiếng Anh thì dùng cả đời. Em nào có tiếng Anh tốt sẽ được tham gia nhiều chương trình trao đổi sinh viên, kiến tập, thực tập các doanh nghiệp nước ngoài ở năm 3, năm 4; em nào có năng lực tiếng Anh tốt, cơ hội xin việc vào các tập đoàn đa quốc gia rất rộng mở'', thầy Tiến cho lời khuyên.

Thạc sĩ Cù Xuân Tiến, Trưởng phòng Tuyển sinh và Công tác sinh viên, Trường ĐH Kinh tế - Luật, ĐH Quốc gia TP.HCM
ảnh: lê Thanh Hải
Phương pháp học tiếng Anh hiệu quả
Một khán giả gửi câu hỏi về chương trình: "Khi các trường đại học thắt chặt quy đổi và chấm dứt "lạm phát điểm chuẩn do IELTS", yêu cầu về năng lực thực chất sẽ cao hơn. Vậy phương pháp học truyền thống, như học thuộc lòng từ vựng, cày mẹo, dịch từ sang từ, sẽ gặp những bất lợi gì?".
Cô Hà Đặng Như Quỳnh giải đáp và chia sẻ: Trước hết, tôi muốn nhấn mạnh: cách học truyền thống thuộc lòng từ vựng, "cày mẹo", dịch từ sang từ bất lợi ngay cả trước khi các trường thắt chặt quy đổi, chứ không phải đến bây giờ mới bất lợi. Việc thắt chặt quy đổi chỉ khiến vấn đề lộ rõ hơn.
Có 3 bất lợi chính: Thứ nhất, học thuộc lòng từ vựng rời rạc, ghi các từ vựng vào giấy rồi cứ học ngày này qua ngày khác, có thể em học sinh nhớ được nghĩa của từ trong danh sách nhưng không biết dùng từ đó trong ngữ cảnh nào, đi với từ nào. Kết quả là nhớ ngắn hạn, quên rất nhanh, và khi vào phòng thi nói (Speaking) hay viết (Writing) thì không dùng được. Đó chính là hiện tượng "học trước quên sau".
Bất lợi thứ hai, ''cày mẹo''. Mẹo có thể giúp làm quen dạng bài, nhưng chỉ đúng với những dạng câu hỏi quen thuộc. Khi đề yêu cầu diễn đạt lại (paraphrase), suy luận hoặc lập luận thì mẹo không còn tác dụng. Vì vậy có nhiều em làm hàng trăm bộ đề mà điểm vẫn dậm chân ở mức thấp.
Bất lợi thứ ba, dịch từng từ sang tiếng Việt nên đọc chậm, nghe không kịp, nói và viết thì sai nhiều, gượng gạo, thiếu tự nhiên. Kỹ năng này cũng không giúp gì khi các em cần đọc tài liệu học thuật dài ở đại học. Khi "mượn" ngữ pháp tiếng Việt rồi nói sang tiếng Anh thì không thể nào chuẩn được, lưu loát được.
Điểm chung của cả 3 cách học này là học để đối phó, không phải để hiểu. Dù trường quy đổi thế nào, cách học hiệu quả vẫn là hiểu bản chất, học từ trong ngữ cảnh và thực hành sử dụng thường xuyên, chứ không phải học để vượt qua một kỳ thi.
Trường ĐH dựa vào những tiêu chí nào để chọn đúng người học phù hợp?
Một em học sinh gửi câu hỏi cho Trường ĐH Kinh tế Luật, ĐH Quốc gia TP.HCM “Nếu không còn điểm cộng, các trường dựa vào những tiêu chí nào để chọn đúng người học phù hợp với chương trình đào tạo?”.
Thạc sĩ Cù Xuân Tiến thông tin: Nếu không còn điểm cộng thì các em vẫn có thể dùng chứng chỉ tiếng Anh để quy đổi thành điểm môn tiếng Anh trong tổ hợp xét tuyển. Ngoài ta, điểm đặc biệt trong 6 tổ hợp xét tuyển của trường, ngoại trừ tổ hợp A00 (toán, lý, hóa), thì các tổ hợp còn lại đều có môn tiếng Anh, điều này hoàn toàn phù hợp với dự thảo, đúng theo hướng dẫn của Bộ GD-ĐT.
Theo tôi, cách làm này công bằng hơn ở một điểm rất căn bản: năng lực cần cho ngành học được đo trực tiếp, bằng cùng một thước đo, thay vì cộng gián tiếp mà không phải em nào cũng có điều kiện đi thi. Thực tế tại trường chúng tôi, có gần 70% thí sinh trúng tuyển năm 2026 xét bằng tổ hợp có môn tiếng Anh. Điều này càng khẳng định việc xây dựng tổ hợp của trường tôi đang đi đúng hướng để đào tạo những cử nhân kinh tế và cử nhật luật chất lượng cao.
Thạc sĩ Cù Xuân Tiến thông tin thêm về mô hình một thang điểm với nhiều cách quy đổi mà trường đang thực hiện: Từ năm 2026, trường cùng các trường thành viên khác đã chuyển qua phương thức xét tuyển tổng hợp. Điểm xét tuyển bao gồm các điểm thành phần của bài thi đánh giá năng lực do ĐH Quốc gia TP.HCM tổ chức, điểm bài thi tốt nghiệp THPT và điểm học bạ.
Năm 2026 trọng số 3 bài thi trên lần lượt là 55:35:10, năm 2027 sẽ là 50:30:10 và từ năm 2028 tỷ lệ này là 65:25:10. Trường hợp các em không thi đánh giá năng lực thì có thể dùng bài thi tốt nghiệp THPT để quy đổi.
Chúng tôi chỉ có thang điểm duy nhất là thang 100, nhưng chia làm nhiều đối tượng. Đối tượng 1 dành cho thí sinh có đủ 3 điểm thành phần trên. Đối tượng 2 dành cho thí sinh không sử dụng điểm bài thi đánh giá năng lực. Đối tượng 3 dành cho thí sinh có các chứng chỉ quốc tế như SAT, ACT, IB, A-Lever.
Nếu em thỏa nhiều đối tượng cùng lúc, hệ thống tự động lấy điểm cao nhất để xét tuyển, nhằm tối ưu cơ hội trúng tuyển của các em.
Một em học sinh trung học phổ thông tại TP.HCM gửi câu hỏi về cho chương trình: "Học sinh tụi em bị quá tải 12 môn học, làm sao để học IELTS mà không mất quá nhiều thời gian?".
Thạc sĩ Trần Anh Khoa tư vấn: ''Tôi từng có sai lầm, năm học lớp 12, tôi từng học cách tích lũy dần dần, mưa dầm thấm lâu. Ví dụ từ vựng, tôi học theo kiểu tích dần, nhiều từ vựng rồi thì đi thi IELTS, nhưng luôn thấy không sẵn sàng, vì lỡ vào vào bài học IELTS thì nhiều từ tôi không biết. Chưa kể nhiều kỹ năng viết, tôi có thể gặp khó khăn khi đứng trước một chủ đề lạ. Tôi không bao giờ sẵn sàng đủ để thi IELTS.
Khi vào DOL English, tôi biết đến hệ phương pháp tư duy toán học Linearthinking áp dụng vào ngôn ngữ. Đặc biệt, tư duy cụ thể hóa vấn đề, đơn giản hóa vấn đề của Linearthinking, giúp tôi rất nhiều trong khi làm bài đọc, bài viết. Phương pháp này không chỉ áp dụng hiệu quả cho môn tiếng Anh mà cả các môn khoa học tự nhiên, như toán, lý, hóa. Nghĩa là học 1 nhưng được 2, 3 - tức là điều này sẽ góp phần giải quyết cơn đau quá tải môn học của học sinh THPT.

Thạc sĩ TESOL Trần Anh Khoa
Tương tự, có học sinh nêu câu hỏi: "Em thấy rằng học IELTS quá tốn thời gian, cày hàng trăm bộ đề nhưng vẫn kẹt ở band 5.0 - 6.0 vì 'học trước quên sau'. Tụi em phải làm sao?".
Thạc sĩ Trần Anh Khoa cho lời khuyên: ''Đề thi giống như một cái cân để mình đứng lên xem cân của mình. Nếu chỉ cày đề, học mẹo, thì lên cân không giá trị. Còn nếu học tư duy, sẽ thấy hiệu quả ngay. Đó cũng là tư duy trong hệ phương pháp Linearthinking: chuyển dịch từ "học mẹo để lấy điểm cộng" sang "học tư duy để phát triển năng lực thực chất".
Một học sinh đặt câu hỏi: Em được biết DOL English có hệ phương pháp Linearthinking nổi bật. Phương pháp Linearthinking có phù hợp với học sinh không có mục tiêu thi IELTS hay không? Nói cách khác, nếu không còn điểm cộng ở kỳ thi đại học với chứng chỉ IELTS, liệu một phương pháp như Linearthinking có còn cần thiết không?
Liên quan đến phương pháp này, nghiên cứu sinh Hà Đặng Như Quỳnh nói thêm: Phương pháp này không sinh ra để "luyện thi IELTS". Đây là cách tiếp cận học tiếng Anh dựa trên tư duy: hiểu bản chất, học cách xử lý kiến thức, truy xuất kiến thức và tổ chức kiến thức có hệ thống thay vì nhớ rời rạc. IELTS chỉ là một thước đo để kiểm tra kết quả của quá trình học đó.
Điều quan trọng là những tư duy này không chỉ dùng cho IELTS. Các em có thể áp dụng cho mọi kỳ thi có bài đọc, từ kỳ thi tốt nghiệp THPT cho tới SAT hay TOEFL. Và xa hơn, các em cũng áp dụng được khi đọc tài liệu bằng tiếng Anh trong học tập và công việc.
Vì vậy, với học sinh chưa có mục tiêu thi IELTS, phương pháp vẫn phù hợp. Và nếu không còn điểm cộng, cách học có tư duy còn cần thiết hơn, vì khi không thể "chạy điểm", năng lực thật mới tạo ra khác biệt.
Dịp này, thạc sĩ Khoa cũng có lời khuyên trước câu hỏi có nên học IELTS từ lớp 6–7 không. Thạc sĩ Trần Anh Khoa chia sẻ: Nếu học lớp IELTS mang tính giải đề thì lớp 6-7 có thể chưa cần học. Nhưng các em hoàn toàn có thể học những lớp mang tính xây dựng dần nền tảng ngôn ngữ, và kiến thức xã hội bằng tiếng Anh nhưng vẫn tích hợp những dạng bài của kỳ thi IELTS. Khi đó, học sinh lớp 6-7 vừa được phát triển kỹ năng ngôn ngữ và kiến thức xã hội một cách phù hợp với độ tuổi, không bị choáng ngợp bởi độ khó của kỳ thi IELTS thật, đồng thời vẫn được tiếp xúc trước với những dạng bài của IELTS cũng như những tư duy sẽ giúp ích cho việc học ngoại ngữ nói chung lẫn cho kỳ thi IELTS nói riêng.
Những quan điểm sai lầm khi học tiếng Anh
Gửi đến chương trình tư vấn, nhiều bạn đọc đặt vấn đề: Đâu là một quan điểm về việc học tiếng Anh nói chung và học IELTS nói riêng rất phổ biến mà các thầy cô không đồng ý?
Thạc sĩ Trần Anh Khoa cho biết đó là quan niệm "Cứ học nhiều từ vựng hơn thì sẽ tiến bộ". Điều này không hoàn toàn sai nhưng cũng chưa phải lời khuyên hiệu quả nhất. Vì từ vựng chỉ là 1 yếu tố góp phần vào kỹ năng ngôn ngữ. Lấy ví dụ ở kỹ năng đọc hiểu, ngoài yếu tố từ vựng, việc nắm chức năng của những cấu trúc câu và những thành phần trong câu cũng rất quan trọng để đọc đúng. Trong nhiều trường hợp, khi nắm kiến thức về cấu trúc câu và xác định đúng thành phần chính của cấu trúc đó, ta có thể giản lược bớt những từ khó nằm ở những thành phần phụ mà vẫn hiểu được ý chính mà câu hỏi muốn xoáy vào.
Với cô Hà Đặng Như Quỳnh, định kiến thứ nhất: "IELTS là cuộc đua ngắn hạn"; "Học IELTS chỉ để thi, để lấy điểm cộng." Thực tế, các kỹ năng IELTS như đọc hiểu, lập luận, viết mạch lạc và nghe hiểu đều là kỹ năng học thuật và công việc thật sự.
Định kiến thứ hai: "Cày thật nhiều đề là sẽ lên điểm." Làm nhiều đề mà không hiểu vì sao sai thì chỉ lặp lại lỗi cũ. Quan trọng là chất lượng phản hồi và cách sửa lỗi.
Ngoài ra còn quan niệm "phải có giọng chuẩn như người bản xứ mới giỏi" hoặc "phải học từ nhỏ mới đạt điểm cao". Thật ra giao tiếp rõ ràng, tự tin và đúng ngữ cảnh mới là điều cốt lõi, và người học ở mọi độ tuổi đều có thể tiến bộ nếu có phương pháp đúng.
Còn thạc sĩ Cù Xuân Tiến nêu: "Điều tôi không đồng ý là một định kiến cứ có IELTS thì giỏi tiếng Anh, còn không có IELTS thì kém tiếng Anh"".
Thạc sĩ Tiến dẫn chứng: Dữ liệu của chính Trường ĐH Kinh tế Luật (ĐH Quốc gia TP.HCM) bác bỏ điều đó. Hai nhóm thí sinh trúng tuyển, một nhóm có chứng chỉ và một nhóm không, có điểm học lực gần như bằng nhau. Nhóm không có chứng chỉ thậm chí còn nhỉnh hơn một chút.
''Rất nhiều em ở nơi không có trung tâm luyện thi, hoặc gia đình không lo nổi vài triệu đồng lệ phí một lần thi. Các em đó không kém tiếng Anh. Các em chỉ chưa có điều kiện đi thi'', thạc sĩ Tiến nhận định.
Lời khuyên nào cho thí sinh sinh năm 2009 trước kỳ tuyển sinh ĐH năm nay?
Cô Hà Đặng Như Quỳnh:
Một, bình tĩnh và theo dõi thông tin chính thức từ Bộ GD-ĐT cũng như đề án tuyển sinh của từng trường mình muốn vào, vì cách sử dụng chứng chỉ có thể khác nhau giữa các trường.
Hai, nếu đã học IELTS hoặc có chứng chỉ rồi thì không cần hoang mang hay bỏ dở. Chứng chỉ vẫn là lợi thế cho học bổng, chương trình quốc tế và cả sau khi vào đại học. Hãy học tiếng Anh vì chính mình chứ không vì điểm cộng. Khi năng lực thật sự vững, các em sẽ có lợi thế ở bất kỳ luật chơi nào.
Ba, dồn sức cho các môn xét tuyển của mình, cân bằng thời gian, và duy trì tiếng Anh đều đặn mỗi ngày với một lượng vừa phải như đọc, nghe hoặc viết ngắn thay vì học dồn.
Thạc sĩ Cù Xuân Tiến:
Thứ nhất, hãy tập trung vào nền tảng học lực. Quy chế có thể thay đổi, điểm cộng có thể bỏ, nhưng kiến thức và điểm học lực của em thì không ai lấy đi được. Đó là phần duy nhất em hoàn toàn làm chủ.
Thứ hai, em nào đang học tiếng Anh thì đừng bỏ giữa chừng. Chứng chỉ vẫn dùng được khi xét tuyển, dưới hình thức quy đổi thay cho điểm môn ngoại ngữ. Ngoài ra đây vẫn là điều kiện vào chương trình giảng dạy bằng tiếng Anh, vẫn giúp em xếp lớp đúng trình độ, công nhận học phần, đạt chuẩn đầu ra và tìm việc tốt hơn.
Thứ ba, hãy theo dõi thông tin chính thức từ Bộ GD-ĐT và từ website của các trường. Mùa tuyển sinh nào cũng có tin đồn, và tin đồn thường gây hoang mang nhiều hơn là giúp ích, đừng chú ý vào những trang không chính thống trên mạng.










Bình luận (0)